Hạt vi cầu tắc mạch là những hạt vi cầu hydrogel có thể nén được, có hình dạng đều đặn, bề mặt nhẵn và kích thước được hiệu chỉnh, được hình thành do sự biến đổi hóa học trên vật liệu polyvinyl alcohol (PVA). Hạt vi cầu tắc mạch bao gồm một chất polyme hóa có nguồn gốc từ polyvinyl alcohol (PVA), có tính ưa nước, không hấp thụ và có nhiều kích cỡ khác nhau. Dung dịch bảo quản là dung dịch natri clorua 0,9%. Hàm lượng nước của hạt vi cầu đã polyme hóa hoàn toàn là 91% ~ 94%. Hạt vi cầu có thể chịu được lực nén 30%.
Các vi cầu gây tắc mạch được thiết kế để sử dụng trong việc gây tắc mạch các dị dạng động tĩnh mạch (AVM) và các khối u tăng sinh mạch máu, bao gồm cả u xơ tử cung. Bằng cách ngăn chặn nguồn cung cấp máu đến vùng mục tiêu, khối u hoặc dị dạng sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng và co lại.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn chi tiết các bước sử dụng vi cầu gây tắc mạch.
Chuẩn bị hàng hóa
Cần chuẩn bị 1 ống tiêm 20ml, 2 ống tiêm 10ml, 3 ống tiêm 1ml hoặc 2ml, cầu chia ba đầu, kéo phẫu thuật, cốc vô trùng, thuốc hóa trị, vi cầu gây tắc mạch, thuốc cản quang và nước cất để tiêm.
Bước 1: Cấu hình thuốc hóa trị
Dùng kéo phẫu thuật để mở nắp chai thuốc hóa trị và đổ thuốc vào một cốc vô trùng.
Loại và liều lượng thuốc hóa trị liệu phụ thuộc vào nhu cầu lâm sàng.
Sử dụng nước cất pha tiêm để hòa tan thuốc hóa trị, và nồng độ khuyến cáo là trên 20mg/ml.
ASau khi thuốc hóa trị được hòa tan hoàn toàn, dung dịch thuốc hóa trị được hút ra bằng ống tiêm 10ml.
Bước 2: Chiết xuất các vi hạt gây tắc mạch mang thuốc
Các vi cầu tắc mạch được lắc đều, sau đó được đưa vào kim tiêm để cân bằng áp suất trong chai.và dùng ống tiêm 20ml hút dung dịch và các vi hạt ra khỏi lọ cillin.
Để ống tiêm yên trong 2-3 phút, sau khi các vi hạt lắng xuống, đẩy phần dung dịch phía trên ra khỏi dung dịch.
Bước 3: Nạp thuốc hóa trị vào các vi cầu gây tắc mạch.
Sử dụng van ba chiều để kết nối ống tiêm chứa vi cầu gây tắc mạch và ống tiêm chứa thuốc hóa trị, chú ý kết nối chắc chắn và hướng dòng chảy.
Dùng một tay đẩy ống tiêm thuốc hóa trị, và dùng tay kia kéo ống tiêm chứa các vi hạt gây tắc mạch. Cuối cùng, trộn thuốc hóa trị và vi hạt vào ống tiêm 20ml, lắc đều ống tiêm và để yên trong 30 phút, cứ 5 phút lại lắc một lần trong suốt thời gian đó.
Bước 4: Thêm chất tương phản
Sau khi các vi hạt được nạp thuốc hóa trị liệu trong 30 phút, thể tích dung dịch được tính toán.
Thêm lượng chất cản quang gấp 1-1,2 lần thể tích dung dịch thông qua van ba chiều, lắc đều và để yên trong 5 phút.
Bước 5: Các vi cầu được sử dụng trong quy trình TACE
Qua van ba chiều, bơm khoảng 1ml vi hạt vào ống tiêm 1ml.
Các vi cầu được bơm vào ống thông vi mô bằng phương pháp bơm xung.
Lưu ý khi hướng dẫn:
Vui lòng đảm bảo thao tác vô trùng.
Hãy đảm bảo rằng thuốc hóa trị đã tan hoàn toàn trước khi cho thuốc vào buồng chứa.
Nồng độ thuốc hóa trị sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả tải thuốc, nồng độ càng cao thì tốc độ hấp phụ càng nhanh, nồng độ tải thuốc được khuyến cáo không được thấp hơn 20mg/ml.
Chỉ được sử dụng nước cất vô trùng để tiêm hoặc dung dịch glucose 5% để hòa tan thuốc hóa trị.
Tốc độ hòa tan doxorubicin trong nước cất vô trùng dùng để tiêm nhanh hơn một chút so với dung dịch glucose 5% dùng để tiêm.
Dung dịch glucose 5% hòa tan pirarubicin nhanh hơn một chút so với nước cất vô trùng dùng để tiêm.
Việc sử dụng ioformol 350 làm chất cản quang thuận lợi hơn cho việc phân tán các vi hạt.
Khi tiêm vào khối u thông qua ống thông siêu nhỏ, phương pháp tiêm xung được sử dụng, giúp phân tán các vi hạt dễ dàng hơn.
Thời gian đăng bài: 28/02/2024















